Không khó hiểu khi “xe điện” trở thành từ khóa làm tốn hao bút mực trên cả “mặt trận” báo chí lẫn mạng xã hội suốt mấy tháng qua. Căn nguyên xuất phát từ một chỉ đạo của thủ tướng chỉ hơn hai tháng trước.
Cụ thể, ngày 12/7, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ban hành Chỉ thị 20, yêu cầu Hà Nội cấm xe mô tô, xe gắn máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch (xăng, dầu) vào khu vực vành đai 1 từ ngày 1/7/2026; đến ngày 1/1/2028 sẽ hạn chế cả ô tô cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch lưu thông trong vành đai 1 và 2; đến năm 2030 áp dụng với toàn bộ phương tiện cá nhân chạy bằng xăng, dầu trong phạm vi vành đai 3.
Trong khi Chính phủ khẳng định đây là bước đi cần thiết để giảm ô nhiễm và thúc đẩy giao thông xanh thì nhiều ý kiến vẫn lo ngại về tính khả thi của Chỉ thị này.
Xe điện có làm Hà Nội sạch hơn hay không thì không ai dám chắc ngoài các nhà lãnh đạo. Tuy nhiên, câu hỏi về tính khả thi của đề án này thì mỗi người dân đều có thể tự đặt ra và tự mình suy ngẫm.
Chuỗi bài Đổi xe điện dễ hay khó? có thể không trả lời được câu hỏi của chính nó. Thay vào đó, qua những con số, phân tích và góc nhìn, bài viết hi vọng giúp độc giả tự hình dung và tự giải đáp vấn đề theo cách của riêng mình.
Trong Kỳ 1 này, bài viết sẽ cung cấp cho bạn đọc một bức tranh toàn cảnh về tình hình ngành điện của Việt Nam, về sản lượng, trữ lượng, tiềm năng, những dự báo, đặt trong tương quan với nhu cầu tiêu thụ điện của cả nước trong thời gian tới, khi nhiều nơi đã, đang và sẽ ồ ạt chuyển đổi sang xe điện.
Ngành điện lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch
Vấn đề đầu tiên cần đặt ra trước sách lược chuyển đổi xe điện, đó là vấn đề nguồn cung điện. Liệu nguồn cung điện có đáp ứng đủ, hay rằng có khả năng nâng cấp cho đủ hay không? Việc đẩy mạnh sản xuất hoặc nhập khẩu điện để đáp ứng đủ nhu cầu sau khi chuyển đổi xe điện, có đem lại hệ lụy, thách thức gì hay không?
Trước khi làm rõ vấn đề căn cơ này, cũng cần điểm qua đôi nét về thực trạng ngành điện ở Việt Nam.
Hiện nay, hơn một nửa sản lượng điện của Việt Nam vẫn đến từ nhiệt điện than, chứ không phải thủy điện. Nghĩa là, phần lớn nguồn điện cả nước sử dụng vẫn phải lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Trong quý 1/2025, tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 72,2 tỷ kWh. Trong đó, nhiệt điện than vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 40,8 tỷ kWh (chiếm 56,5%), tiếp theo là thủy điện với 13,8 tỷ kWh (chiếm 19,1%). Các nguồn năng lượng tái tạo chiếm 16%, tuabin khí sản xuất 4,6 tỷ kWh, tương đương 6,4%, còn điện nhập khẩu chiếm 1,8%.
Cùng thời điểm trên của năm ngoái, trong bốn tháng đầu năm 2024, sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống đạt 96,16 tỷ kWh, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, thủy điện đạt 14,41 tỷ kWh, chiếm 15%; nhiệt điện than 56,89 tỷ kWh, chiếm 59,2%.
| Thời gian | Nhiệt điện than | Tổng sản lượng |
| Quý 1/2025 | 40,8 tỷ kWh, chiếm 56,5% | 72,21 tỷ kWh |
| 4 tháng đầu năm 2024 | 56,89 tỷ kWh, chiếm 59,2% | 96,16 tỷ kWh |
| 4 tháng đầu năm 2023 | 40,0 tỷ kWh, chiếm 46,5% | 86,02 tỷ kWh |
| 4 tháng đầu năm 2022 | 39,09 tỷ kWh, chiếm 45,6% | 85,72 tỷ kWh |
| 5 tháng đầu năm 2021 | 54,13 tỷ kWh, chiếm 51,7% | 104,7 tỷ kWh |

Mặc dù trong nhiều thập niên, thủy điện từng là trụ cột của ngành điện cả nước. Điển hình là những công trình lớn như nhà máy Thủy điện Hòa Bình (1.920 MW), nhà máy Thủy điện Sơn La (2.400 MW), nhà máy Thủy điện Lai Châu (1.200 MW) đã cung cấp nguồn năng lượng điện ổn định cho lưới điện quốc gia trong nhiều năm.
Tuy nhiên đến nay, hầu như các dự án thủy điện lớn có công suất trên 100 MW đã được khai thác hết, phần còn lại chỉ là những dự án nhỏ, công suất thấp, khó có thể gia tăng sản lượng điện.
Trong khi đó, nhu cầu sử dụng điện tại Việt Nam liên tục tăng trưởng ở mức 8% đến 10% mỗi năm, đặt ra yêu cầu phải có nguồn cung điện ổn định, liên tục và đủ khả năng mở rộng để đáp ứng tốc độ tăng trưởng này.
Thế nhưng năng suất thủy điện phải phụ thuộc nhiều vào thời tiết, đặc biệt là lượng mưa. Việc thiếu nước ở mùa khô khiến sản lượng điện giảm, trong khi vào mùa mưa lớn có thể gây quá tải cho hồ chứa và lưới điện.
Điều này khiến nguồn cung điện từ thủy điện không ổn định quanh năm, khó đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng tăng, đặc biệt tại các đô thị lớn.
Trong khi đó, nhiệt điện có khả năng vận hành ổn định, chỉ cần cung ứng đủ nguồn nhiên liệu đốt, ít chịu tác động từ thiên nhiên. Ngoài ra, nhiệt điện còn tạo sự thuận lợi khi có thể việc đặt nhà máy gần các khu công nghiệp, đô thị lớn để giảm chi phí truyền tải, giảm chi phí xây dựng, khác với thủy điện bắt buộc phải xây ở những địa thế đặc thù và đôi khi là khá hiểm trở.
Nhiệt điện vì thế đã dần trở thành “xương sống” của toàn hệ thống điện trong nước. Từ thực tế này, một câu hỏi khác lại nảy sinh, rằng: liệu việc chuyển đổi sang xe điện có giúp làm xanh hóa môi trường? Hay khi nhu cầu điện càng nhiều, việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch sẽ gia tăng tương ứng, tạo thêm tác nhân ô nhiễm khác?
Nhiên liệu cho nhiệt điện hầu hết đến từ than nhập khẩu
Không chỉ đặt ra bài toán về nguồn điện và tác động môi trường khi tăng sản xuất điện, việc chuyển đổi xanh có thể còn khiến giới quản lý kinh tế đau đầu về vấn đề nguồn cung nhiên liệu cho nhà máy điện.
Tuy nhiệt điện hiện đóng góp phần lớn cho sản lượng điện cả nước, nguồn nhiên liệu cho những nhà máy này – than – lại không hoàn toàn do Việt Nam tự chủ, mà phải nhập khẩu từ nước ngoài. Điều này có nghĩa, nếu muốn đẩy mạnh sản xuất nhiệt điện cũng tức là phải gia tăng nhập khẩu than.
Độc giả có thể thấy khó hiểu, vì Việt Nam sở hữu nhiều mỏ than, thậm chí còn xuất khẩu than cho nhiều nước, vậy tại sao không thể tự túc nguồn than cho các nhà máy nhiệt điện?
| Năm | Nhập khẩu(triệu tấn) | Xuất khẩu(triệu tấn) |
| 4 tháng đầu năm 2025 | 24,43 | |
| 2024 | 63.824 | 637 |
| 2023 | 51.106 | 807 |
| 2022 | 31.704 | 1.198 |
Câu trả lời là: hầu hết than nội địa không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của nhiều lò hơi trong nước.
Theo PGS.TS Trương Duy Nghĩa, chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam, loại than Việt Nam thường xuất khẩu là than antraxit.
Khi đưa vào sản xuất điện, loại than này khó cháy hoàn toàn, khiến phần tro thải ra vẫn còn chứa khoảng 15% đến 20% cacbon chưa bị đốt hết.
Do đó, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu loại than bitum và sub-bitum. Đây là loại than có đặc tính bắt cháy nhanh, phù hợp cho lò hơi của các nhà máy điện, và đặc biệt là không có ở Việt Nam.
Về nguyên lý, loại than nào càng dễ cháy thì càng thuận lợi cho việc vận hành phát điện.
Tuy nhiên, mỗi nhà máy nhiệt điện được thiết kế theo một loại than nhất định: nhà máy dùng than nội địa thì không thể chuyển sang đốt than nhập, và ngược lại.
Hiện nay, Việt Nam có 31 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với tổng quy mô công suất 27.532 MW. Trong đó, cụm Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4, Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 và Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng đều chạy hoàn toàn bằng than nhập khẩu.
Năm 2024, riêng Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 sản xuất khoảng 8,64 tỷ kWh điện. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2024, riêng nhóm này tiêu thụ tới 5,58 triệu tấn than bitum và sub-bitum (hai loại than mà nguồn cung trong nước không đáp ứng được). Ước tính trong năm 2025, tổng nhu cầu tiêu thụ than sẽ là hơn 11 triệu tấn.
Đáng chú ý, lượng than nhập khẩu trong năm tháng đầu năm 2025 đạt khoảng 6,25 triệu tấn, tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm gần 22% tổng tiêu thụ.

Những con số này cho thấy than nhập khẩu không chỉ giữ vai trò “bổ sung” mà đang trở thành nguồn cung then chốt, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nhu cầu vận hành của các nhà máy nhiệt điện Việt Nam.
Hệ quả từ câu chuyện này, không khó để dự đoán: khi việc sản xuất điện không thể tự túc nguồn cung nhiên liệu mà ngày càng phải lệ thuộc vào nhập khẩu, chi phí sản xuất sẽ gia tăng, giá điện thành phẩm sẽ biến động thuận chiều tăng của chi phí.
Chưa kể, khi nhà nước và đơn vị cung cấp điện không thể cân đối giá thành, biến động giá nhiên liệu sẽ dễ dàng tác động đến giá bán điện niêm yết. Khi đó, không chỉ túi tiền người dân trở nên dễ tổn thương, mà toàn bộ nền kinh tế sẽ phải chịu chung ảnh hưởng.
EVN phải gánh lỗ vì giá than nhập khẩu tăng cao
Thực tế đã cho thấy rõ điều đó. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã không thể gồng gánh sức ép từ giá nhập nhiên liệu để cân đối giá bán điện trong nước.
Úc, Indonesia và Nga là ba thị trường cung cấp phần lớn than đá nhập khẩu cho Việt Nam.
Trong bốn tháng đầu năm 2025, sản lượng than nhập khẩu từ ba nước này chiếm gần 81,3% tổng kim ngạch nhập khẩu than đá.
Tuy nhiên, mức giá nhập khẩu than từ các nước này không ổn định.
Đầu năm 2025, than từ Australia có giá trung bình 126,2 USD/tấn, giảm 28,7% so với cùng kỳ; than từ Indonesia 81,5 USD/tấn, giảm 12,8%; trong khi than từ Nga cũng giảm mạnh, còn khoảng 137 USD/tấn, thấp hơn 30,7% so với cùng kỳ.
| Giá than Úc | Giá than Indonesia | Giá than Nga | |
| 2025 | 126,2 USD/tấn | 81,5 USD/tấn | 137,3 USD/tấn |
| 2024 | 153,6 USD/tấn | 91,8 USD/tấn | 171,9 USD/tấn |
| 2023 | Giá nhập khẩu bình quân đạt 141,6 USD/tấn | ||
Trước đó, vào tháng 4/2022, giá than tăng kỷ lục, từ 138 USD/tấn lên tới 705 USD/tấn, tức tăng hơn 4 lần chỉ trong một năm. Không chỉ than, giá khí đốt trong cùng giai đoạn cũng tăng 27,4%.
Việc giá than nhập khẩu biến động thất thường đã trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí sản xuất điện, đặc biệt là với EVN – đơn vị đang phụ thuộc lớn vào nguồn than cho các nhà máy nhiệt điện.
Khi giá than leo thang, EVN lập tức chịu áp lực chi phí đầu vào do hợp đồng mua than có cơ chế điều chỉnh theo thị trường, trong khi giá bán điện lại bị kiểm soát chặt chẽ, khiến tình trạng thua lỗ kéo dài.
Trái lại, khi giá than hạ nhiệt, doanh nghiệp cũng không thể hưởng trọn lợi thế vì phần lớn nguồn cung được ký theo hợp đồng dài hạn với mức giá cố định, thiếu sự linh hoạt để bắt kịp biến động thị trường.
Hệ quả là EVN đứng trước sức ép tài chính nặng nề. Theo báo cáo công bố ngày 9/9, lũy kế đến cuối năm 2024, tập đoàn này ghi nhận khoản lỗ gần 45.000 tỷ đồng.
Nguyên nhân, theo tập đoàn này công bố, một phần đến từ việc chi phí sản xuất điện tăng do giá nhiên liệu leo thang, trong khi nhiều khoản chi phí chưa được tính hết, hoặc chưa được đưa đầy đủ vào các lần điều chỉnh giá điện trước đó.

Để bù đắp thua lỗ, EVN đề xuất được đưa khoản lỗ lũy kế này vào cơ cấu chi phí, nhằm tính vào giá bán lẻ điện bình quân.
Trong vòng 15 năm, giá điện bình quân đã tăng khoảng 102,5% từ mức 948,5 đồng/kWh vào năm 2009 lên 1.920,37 đồng/kWh vào năm 2023.
Tương lai của những con số này sẽ tiếp tục biến động thế nào, vẫn chưa thể nói trước rõ ràng, nhưng không khó để hình dung chiều hướng.
Những con số về nhập khẩu than, chi phí sản xuất điện và khoản lỗ khổng lồ của EVN cho thấy rõ một nghịch lý: xe điện chưa hẳn xanh, chi phí đầu tư và sử dụng chưa hẳn sẽ cải thiện, và an ninh năng lượng lẫn sức khỏe của nền kinh tế nói chung, sẽ phải cần nhiều tính toán và hoạch định căn cơ nếu muốn chuyển đổi đồng bộ sang loại hình phương tiện này.
Đó là những câu chuyện ở tầm bao quát, về một bức tranh chung cho cả nước. Ở kỳ tới, người viết sẽ cố gắng phác họa bức tranh cụ thể hơn, cho riêng địa phương được xác định sẽ tiên phong áp dụng thực hiện kế hoạch “xanh hóa” phương tiện đi lại. Mời độc giả đón đọc kỳ tiếp theo của bài viết, sẽ bàn về tính khả thi của hạ tầng ngành điện Hà Nội trước kế hoạch chuyển đổi sang xe điện.


Bên đội phát triển xem lại chỗ dark mode nhá, mình bấm được nhưng lại không chuyển sang dark mode mà cứ light mode hoài, buổi tối đọc hơi sáng quá
Cách duy nhất thoát tình trạng này là chờ Nga hoặc Trung Quốc sản xuất hydrocarbon tổng hợp từ mỏ khí hydrogen bằng năng lượng hạt nhân thì ta sẽ chấm dứt hoàn toàn nhiên liệu hóa thạch